ĐẠO PHẬT

ĐẠO PHẬT

CHỬ HIẾU TRONG ĐẠO PHẬT :

Nếu hiếu thảo được xem như đứng đầu trăm hạnh (Hiếu vi bách hạnh chi tiên) thì bất hiếu là một trọng tội (tội nặng). Đức Phật từng ví cha mẹ như hai vị Phật trong nhà là Phật Thích Ca và Phật Di Lặc1. Đức Phật từng ví cha mẹ như trời Phạm Thiên, như bậc Đạo sư ở đời2. Đức Phật dạy mọi người phải biết ơn cha mẹ, hiếu kính cha mẹ, biết phụng dưỡng cha mẹ bằng điều lành và làm những gì tốt nhất, cần thiết nhất cho cha mẹ. Cụ thể là chăm sóc đời sống tinh thần, tâm linh của cha mẹ; hướng cha mẹ đến với điều thiện, điều lành và tránh xa điều xấu ác, bất thiện; giúp cha mẹ tạo nhân duyên lành mang lại an lạc, hạnh phúc cho đời này cùng đời sau3.

Đức Phật dạy, người con biết hiếu thảo chẳng những đáp đền được công ơn cha mẹ mà còn tạo được nhiều phước báo cho mình nhờ những việc làm hiếu thảo đối với cha mẹ. Đức Phật khen ngợi người con hiếu thảo như sau: Người nào biết hiếu thảo với cha mẹ, người đó xứng đáng được cúng dường, được tôn kính ngang bằng với trời Phạm Thiên, được xem như các bậc Đạo sư ở đời4. Và Ngài cho biết: Thờ cha mẹ đúng pháp, buôn bán đúng, thật thà. Gia chủ không phóng dật, được sinh Tự Quang thiên5. Ở đây, người con biết tôn kính, phụng dưỡng cha mẹ đúng pháp; làm ra của cải vật chất bằng điều thiện, bằng nghề nghiệp, công việc chơn chánh để nuôi dưỡng, chăm lo cho cha mẹ; sống lương thiện, hữu ích để cha mẹ được an tâm, vui lòng, người con hiếu thảo như thế sau khi chết sẽ được sinh về cõi Tự Quang thiên.

Bên cạnh việc chỉ rõ cho mọi người hiểu biết đầy đủ, sâu sắc về công ơn cha mẹ, dạy người làm con phải biết hiếu thảo với cha mẹ như thế nào mới là đủ để đáp đền công ơn cha mẹ6, Đức Phật còn chỉ rõ quả báo của hành vi bất hiếu và cho biết đó là một đại tội, Ngài cảnh báo mọi người không nên phạm phải: Điều lành cao tột chẳng gì bằng hiếu, điều ác cùng cực chẳng gì bằng bất hiếu7.

Nếu hiếu thảo được người đời ngợi khen, được bậc Thánh khuyến khích và đem lại nhiều phước báo cho người con, thì bất hiếu bị người đời chê trách, lên án, kết tội. Hành vi bất hiếu cũng khiến người con mất đi nhân phẩm, đạo đức và bị tổn giảm phước báo, tùy mức độ bất hiếu mà tổn giảm phước báo nhiều hay ít, thậm chí tạo thành nghiệp cực ác dẫn đến địa ngục, đọa xứ. Hiếu thảo và bất hiếu đều không nằm ngoài phạm vi nhân quả.

Vào thời Phật tại thế, thái tử A Xà Thế nghe theo lời xúi giục của Đề Bà Đạt Đa âm mưu cướp ngôi và bắt giam vua cha là Bình Sa vương, rồi hành hạ vua cha cho đến chết. Vì tội bất hiếu ấy mà về sau ông lại bị chính con mình cướp ngôi và giết chết. Quả báo không chỉ có thế, dù cuối đời A Xà Thế tỉnh ngộ và quy y Phật, trở thành một Phật tử tại gia hộ trì Tam bảo đắc lực, nhưng sau khi chết ông vẫn tái sinh vào khổ cảnh, vì nhân lành ông gieo chưa đủ duyên để trổ quả trong khi ác nghiệp lại quá lớn8. 

Còn Tôn giả Mục Kiền Liên, vị Đại đệ tử thần thông đệ nhất của Phật, trong một kiếp quá khứ xa xôi đã nghe theo lời người vợ độc ác mà âm mưu ám hại cha mẹ. Chính vì hành vi đại nghịch, cực ác đó mà Tôn giả phải thọ quả báo khổ trong một thời gian dài, và trong kiếp cuối cùng, dù đã tu hành chứng Thánh quả A-la-hán, vẫn phải tiếp tục chịu quả báo bị ngoại đạo lõa thể giết chết9.

Trong kinh Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni có thuật lại một trường hợp về quả báo của tội bất hiếu như sau:

“Có một vị thiên tử ở cõi trời Đao Lợi tên là Thiện Trụ, ông biết mình sắp hết phước báo và phải bảy lần đọa làm cầm thú, thường ăn đồ nhơ uế. Sau bảy lần đọa làm cầm thú lại bị đọa địa ngục chịu khổ trải qua nhiều kiếp mới được làm người. Nhưng khi được thân người lại phải mang hình dung tướng mạo đen lùn, xấu xí, mù cả hai mắt, các căn không đủ, hơi miệng hôi hám, nghèo khó hèn hạ, đói khát khổ sở, ai thấy cũng gớm ghiếc lánh xa. Biết thế Thiện Trụ rất đỗi kinh hoàng, đêm ngày lo sợ, không biết vì nguyên nhân gì mình phải chịu quả báo nặng nề như thế. Ông bèn đến bái kiến Thiên đế Thích Đề Hoàn Nhơn cầu xin cứu giúp.

Thiên đế dùng thiên nhãn nhìn thấy sau khi Thiện Trụ hết phước sẽ đọa làm thân heo, sau thân heo lại thọ thân chó, hết thân chó lại thọ thân chồn, hết thân chồn lại thọ thân khỉ, rồi thân rắn, thân kên kên, thân quạ, trong bảy kiếp làm cầm thú ấy thường ăn những đồ nhơ uế. Thấy thế, Thiên đế nghĩ: Thiên nhãn của ta chỉ thấy biết ít phần, không thể hiểu được những nghiệp nhân sâu xa. Chỉ có Đức Như Lai là bậc Chánh biến tri mới có thể hiểu thấu suốt tất cả nhân quả thiện ác. Và cũng chỉ có Đức Như Lai mới có thể cứu Thiện Trụ thiên tử ra khỏi vòng khổ ách. Ta nên đến thỉnh cầu Ngài cứu giúp.

Rồi Thiên đế Thích Đề Hoàn Nhơn cùng Thiện Trụ thiên tử và chư thiên xuống bái kiến Đức Phật, trình bày sự việc và thỉnh cầu Đức Phật cho biết Thiện Trụ thiên tử đời trước tu phước chi mà được hưởng sự vui nơi cõi trời? Tạo nhân gì mà sau khi hết phước cõi trời phải bảy lần đọa làm thân cầm thú, ăn đồ bất tịnh, rồi thọ sự khổ nơi địa ngục, sự hèn hạ, xấu xí nơi cõi người?

Đức Phật đã cho Thiên đế và chúng hội biết, vào thời Đức Phật Tỳ Bà Thi có hai mẹ con nhà nghèo sống bằng nghề làm ruộng. Cha đứa bé chết sớm, từ nhỏ tới lớn đứa bé sống với mẹ, hàng ngày lo việc cày cấy trồng trọt ngoài đồng. Một hôm đứa con làm việc ngoài đồng đến trưa mà chưa thấy mẹ đem cơm ra cho mình, vừa mệt lại vừa đói nên trong lòng nổi lên sân hận, nó dùng lời ác độc mắng mẹ rằng: ‘Mẹ còn thua loài súc sinh! Con heo, chó, chồn, khỉ, rắn, kên kên, quạ còn biết thương và chăm lo cho con của nó, còn bà lại để tôi đói khát như thế này’. Đứa con chửi mắng, nguyền rủa mẹ mình một lúc thì bà mẹ mang cơm ra đến nơi, bà nói lời an ủi và cho biết vì bận nhiều việc nên bà đem cơm trễ.

Đứa con vui vẻ trở lại, ngồi xuống định dùng cơm thì thấy giữa hư không có vị Phật Bích Chi đi qua. Nó sinh lòng kính ngưỡng đứng lên chắp tay cúi đầu đảnh lễ và cúng dường phần cơm của mình cho vị Phật Bích Chi. Sau đó ít lâu người con xuất gia. Trong một buổi lễ nọ, có người phát tâm cúng dường tô du và sữa đặc. Người con nay đã là Tăng trong chùa, vì hiềm khích với chúng Tăng mà không lấy tô du và sữa đặc ra thết đãi. Có người hỏi thì ông trả lời: Bộ mấy người đui mù hết sao? Có tô du và sữa đâu mà bảo tôi dọn ra. Nếu muốn đòi thêm thì chỉ có phẩn và nước tiểu để cho các người ăn mà thôi.

Đứa con trai đó chính là Thiện Trụ thiên tử bây giờ, do kiếp trước hờn giận dùng lời ác gọi tên bảy loài cầm thú mắng mẹ, nên phải chịu quả báo bảy phen làm cầm thú. Do khi làm Tăng thốt lời nhơ uế mắng nhiếc chư Tăng nên nghiệp cảm thường ăn đồ bất tịnh. Do tham, sân, bỏn sẻn giữ riêng thức ăn của hiện tiền Tăng nên bị quả báo địa ngục và chịu nghèo hèn thô xấu trong kiếp người. Do mắng chư Tăng là đui mù nên nhiều đời phải bị mù đôi mắt, sống trong cảnh tối tăm và chịu nhiều khổ não. Nhưng do kiếp trước phát khởi tâm lành, cung kính cúng dường vị Phật Bích Chi mà được sinh lên cõi trời hưởng sự vui thắng diệu.

Thiện Trụ thiên tử nghe Phật nói rõ nhân duyên của quả báo khổ, quả báo vui mà mình phải nhận lãnh, ông hết sức ăn năn tự trách, bèn đảnh lễ Phật cầu xin sám hối. Đức Phật dạy, Thiện Trụ thiên tử chỉ vì nóng giận mắng mẹ và chư Tăng mà tổn giảm phước báo ở cõi trời, phải chịu thân cầm thú, địa ngục. Cho nên đối với cha mẹ và chư Tăng phải tôn trọng và cung kính, thường nhớ nghĩ đến ân đức chứ không nên khinh hủy”.

Hiếu thảo là đạo đức làm người, là nhân sinh về cõi trời, là hạnh của chư Phật, cho nên: Điều lành cao tột chẳng gì bằng hiếu, điều ác cùng cực chẳng gì bằng bất hiếu10.

Minh Hạnh Đức

Nguồn: Báo giác Ngộ

1 Từ Bi Đạo Tràng Mục Liên Sám Pháp

2 Kinh Tăng Chi Bộ I

3 Kinh Tăng Chi Bộ I

4 Kinh Tăng Chi Bộ I

5 Kinh Nipata

6 Kinh Phật thuyết báo hiếu phụ mẫu trọng ân, Phật thuyết Vu lan bồn

7 Kinh Nhẫn nhục

8 Lịch sử Đức Phật Thích Ca

9 Đức Phật và Phật pháp

10 Kinh Nhẫn nhục

[IMG]

 

 

Phật Thuyết Kinh Cha Mẹ Ân Trọng Khó Báo Đáp **************************************** Hán dịch: Tam Tạng Pháp Sư Cưu-ma-la-thập đời Diêu Tần Việt dịch: Tại gia Bồ-tát giới Ưu-bà-tắc Nguyên Thuận Tôi nghe như vầy: 

Một thuở nọ, Đức Phật ở tại vườn Kỳ Thụ Cấp Cô Độc trong thành Xá-vệ, cùng với 2.500 vị đại Tỳ-kheo và 38.000 vị Bồ-tát Ma-ha-tát. Có một hôm, Thế Tôn dẫn đại chúng đi về hướng nam. Bỗng nhiên đại chúng nhìn thấy một đống xương ở ven đường. Lúc bấy giờ Đức Như Lai hướng về đống xương khô kia, rồi cúi đầu đảnh lễ sát đất và cung kính lễ bái. Khi ấy ngài A-nan chắp tay và bạch rằng: “Bạch Thế Tôn! Như Lai là bậc đại sư của Tam Giới, cha lành của bốn loại chúng sanh; mọi người đều quy y và cung kính. Vì nhân duyên gì mà Ngài lễ bái đống xương khô?” Phật bảo ngài A-nan: “Tuy các ông là những đệ tử lớn của Ta và đã xuất gia lâu rồi, nhưng sự hiểu biết vẫn chưa sâu rộng. Đống xương khô này có thể là tổ tiên hay cha mẹ của Ta trong nhiều đời trước. Bởi nhân duyên ấy mà Ta nay lễ bái họ.” Phật bảo ngài A-nan: “Bây giờ ông hãy phân đống xương khô này làm hai phần. Nếu là xương của người nam thì sẽ có màu trắng và nặng. Còn nếu là xương của người nữ thì sẽ có màu đen và nhẹ.” Ngài A-nan bạch rằng: “Bạch Thế Tôn! Người nam lúc còn sống, họ mặc áo, thắt nịt, mang giày, đội mũ, và trang nghiêm đẹp đẽ, khi nhìn thoáng qua thì biết đó là thân người nam. Người nữ lúc còn sống, họ bôi son thoa phấn và xức dầu thơm; với trang sức như thế, thì liền biết đó là thân người nữ. Thế nhưng sau khi chết, giờ họ chỉ còn lại một đống xương. Xin Phật dạy chúng con để nhận biết được sự khác biệt này?” Phật bảo ngài A-nan: “Người nam lúc sanh thời, nếu họ có vào chùa nghe giảng Kinh luật, lễ bái Tam Bảo, và niệm danh hiệu Phật, thì xương sẽ có màu trắng và nặng. Còn phần đông người nữ ở thế gian thì trí lực kém và dễ chìm đắm bởi tình cảm. Họ phải sanh đẻ, nuôi nấng con cái, và cho đó là bổn phận của mình. Mỗi em bé khi lọt lòng đều nhờ vào sữa mẹ để nuôi sống. Sữa đó là do máu chuyển biến thành. Trung bình mỗi em bé uống khoảng 840 lít sữa mẹ. Bởi vậy mà người mẹ trở nên tiều tụy, xương chuyển sang màu đen và trọng lượng cũng nhẹ đi.” Khi ngài A-nan nghe lời dạy của Phật, lòng đau như cắt, nước mắt đầm đìa. Ngài bạch rằng: “Bạch Thế Tôn! Con phải làm sao để báo đáp ân đức của mẫu thân?” Phật bảo ngài A-nan: “Ông nay hãy lắng nghe, Ta sẽ vì ông phân biệt giảng giải. Lúc có bầu, người mẹ phải mang thai suốt mười tháng. Đây thật khổ nhọc biết dường nào. Khi người mẹ có mang ở tháng thứ nhất, mạng sống của thai nhi như giọt sương trên ngọn cỏ, từ lúc bình minh đến hoàng hôn có biết còn không, sáng sớm tụ đọng lại, giữa trưa tiêu tan đi. Khi người mẹ mang thai ở tháng thứ nhì, thai nhi đọng lại như sữa đặc. Khi người mẹ có mang ở tháng thứ ba, thai nhi đọng lại như cục máu. Khi người mẹ có mang ở tháng thứ tư, thai nhi đã có chút hình người. Khi người mẹ có mang ở tháng thứ năm, thai nhi ở trong bụng mẹ đã bắt đầu phát triển năm phần. Những gì là năm? Đó là đầu, hai khuỷu tay, và hai đầu gối. Khi người mẹ có mang ở tháng thứ sáu, thai nhi ở trong bụng mẹ đã hoàn chỉnh sáu giác quan. Những gì là sáu? Mắt là một. Tai là hai. Mũi là ba. Lưỡi là bốn. Thân là năm. Ý là sáu. Khi người mẹ có mang ở tháng thứ bảy, thai nhi ở trong bụng mẹ đã hình thành 360 đốt xương và 84.000 lỗ chân lông. Khi người mẹ có mang ở tháng thứ tám, thai nhi đã sanh ý trí và đầy đủ chín lỗ. Khi người mẹ có mang ở tháng thứ chín, thai nhi ở trong bụng mẹ đã có thể hấp thu dinh dưỡng từ các chất như trái đào, quả lê, rau quả, và ngũ cốc. Ở bên trong thân thể của người mẹ, các bộ phận dạ dày hướng xuống, còn các bộ phận đường ruột hướng lên, và được ví như trên mặt đất có ngọn núi cao vót chồi ra. Núi có ba tên: 1. Tu-di, 2. Nghiệp Sơn, 3. Huyết Sơn. Đây được dụ như khi núi sạt lở và kết làm một tuyến dài. Cũng tương tự như vậy, máu của mẹ ngưng đông lại để tạo thành thức ăn cho thai nhi. Khi người mẹ có mang ở tháng thứ mười, toàn thân thể của thai nhi đã phát triển đầy đủ và sẵn sàng chào đời. Nếu quả là đứa con hiếu thuận thì sẽ chắp tay và bình an sinh ra. Người mẹ sẽ không tổn thương và cũng chẳng đau đớn. Còn nếu là đứa con ngỗ nghịch thì sẽ gây hại cho thai của người mẹ, kéo xé tim gan và đạp xương chậu của mẹ mình. Lúc sanh, người mẹ cảm thấy như bị cả ngàn con dao đâm vào, hoặc lại giống như bị hàng vạn lưỡi đao xuyên thủng thấu tim. Đây là những thống khổ mà người mẹ phải chịu khi sanh ra đứa con này. Để phân tích cho cặn kẽ thì có mười ân huệ mà người mẹ đã dành cho con: 1. Ơn bảo hộ gìn giữ khi mang thai. 2. Ơn chịu đau đớn lúc sanh nở. 3. Ơn quên đi sầu muộn khi con chào đời. 4. Ơn nuốt đắng để mớm phần ngọt cho con. 5. Ơn nằm ướt để chừa chỗ khô cho con. 6. Ơn cho bú và nuôi dưỡng. 7. Ơn lau rửa đồ bất tịnh trên thân con. 8. Ơn nhớ nhung khi con đi xa. 9. Ơn hy sinh thân mình vì con. 10. Ơn hết mực thương yêu. 1. Ơn bảo hộ gìn giữ khi mang thai. Kệ rằng: Nhiều kiếp nhân duyên dày Nay thác vào thai mẹ Tháng qua sanh ngũ tạng Bảy tuần đủ sáu căn Thân mẹ nặng như núi Đi đứng như kiếp gió Áo đẹp chẳng còn mặc Gương soi dính đầy bụi 2. Ơn chịu đau đớn lúc sanh nở. Kệ rằng: Mang thai dài mười tháng Sinh khó sắp kề đến Sáng sáng như bệnh nặng Ngày ngày tựa hôn trầm Sợ hãi khó diễn bày Lệ sầu khắp tim đau Ngậm ngùi bảo người thân Cái chết đang tiến gần 3. Ơn quên đi sầu muộn khi con chào đời. Kệ rằng: Ngày mẹ hiền sanh con Ngũ tạng như mở tung Thân tâm đều kiệt quệ Máu chảy tựa mổ dê Khi nghe con bình an Vui mừng gấp bội thường Hết vui sầu lại đến Thống khổ quặn ruột tim 4. Ơn nuốt đắng để mớm phần ngọt cho con. Kệ rằng: Ơn cha mẹ sâu nặng Thương con không hề phai Mớm ngọt chẳng chút nghỉ Nuốt đắng không nhíu mày Ái trọng tình bao la Thâm ân thương vô bờ Chỉ mong con no nê Mẹ hiền đói chẳng màng 5. Ơn nằm ướt để chừa chỗ khô cho con. Kệ rằng: Thân mẹ cam nằm ướt Dời con đến nơi khô Vú mẹ thỏa cơn khát Vạt áo che gió lạnh Thương lo đầu quên gối Nuông chiều làm trò vui Mong sao con an lành Mẹ hiền chẳng cầu yên 6. Ơn cho bú và nuôi dưỡng. Kệ rằng: Từ mẫu như đại địa Nghiêm phụ như trời cao Che chở đồng như nhau Ân cha mẹ cũng vậy Không ghét không giận hờn Cưỡi leo chẳng than phiền Con cái như mạng họ Suốt ngày yêu thương nhớ 7. Ơn lau rửa đồ bất tịnh trên thân con. Kệ rằng: Xưa như hoa phù dung Tinh thần mạnh khỏe sung Lông mi như liễu bích Sắc mặt thẹn sen hồng Ơn sâu quên mặt ngọc Lau rửa tay mềm chai Chỉ vì thương con cái Dung nhan mẹ hiền phai 8. Ơn nhớ nhung khi con đi xa. Kệ rằng: Tử biệt khó kham nhẫn Sanh ly thật cảm thương Con đi đến phương xa Mẹ nhớ tại quê nhà Ngày đêm mòn mỏi trông Lệ chảy cả ngàn dòng Như vượn khóc yêu con Ruột gan đứt từng đoạn 9. Ơn hy sinh thân mình vì con. Kệ rằng: Trọng ân của cha mẹ Ơn sâu khó đáp đền Con khổ nguyện chịu thế Con nhọc mẹ chẳng an Nghe con đến nơi xa Thương con nằm đêm lạnh Con cái gặp chút khổ Lòng mẹ mãi lo sầu 10. Ơn hết mực thương yêu. Kệ rằng: Ơn cha mẹ sâu nặng Thương yêu không hề phai Đứng ngồi nghĩ về con Gần xa ý trông theo Dẫu mẹ đã trăm tuổi Vẫn nhớ con tám mươi Khi nào tình thương hết? Chỉ khi mạng chấm dứt” Phật bảo ngài A-nan: “Ta quán sát chúng sanh, tuy được sinh làm người, nhưng có kẻ thì tâm tánh ngu si. Họ không nhớ đại ân đức của cha mẹ, không có tâm cung kính, vong ân bội nghĩa, không có lòng nhân từ, và bất hiếu ngỗ nghịch. Suốt mười tháng cưu mang, người mẹ đứng ngồi không yên như là đang vác đồ nặng, ăn uống không tiêu như là người bệnh trường kỳ. Khi đến thời điểm sanh nở, người mẹ phải chịu muôn vàn thống khổ. Đang lúc sanh con, tánh mạng của người mẹ rất nguy kịch, vì máu chảy lai láng trên đất như là mổ giết heo dê. Sau khi đã chịu những sự thống khổ như thế và sanh được con ra, người mẹ nuốt đắng mớm ngọt và ôm ấp nuôi nấng, lau rửa đồ bất tịnh trên thân con mà không sợ cực khổ, chịu nóng chịu lạnh mà không sợ nhọc nhằn, chỗ ráo con nằm còn chỗ ướt mẹ ngủ. Ba năm liền, mẹ cho con bú sữa, mà sữa đó chính là từ máu của mẹ chuyển biến thành. Khi con cái đến tuổi trưởng thành, cha mẹ vẫn tiếp tục dạy dỗ lễ nghĩa, rồi giúp con dựng vợ gả chồng và mưu cầu sự nghiệp. Sinh con ra và nuôi con khôn lớn, cha mẹ phải chịu muôn bề cay đắng. Thế nhưng, họ không bao giờ kể công lao. Khi con cái có bệnh, cha mẹ lo sợ kinh hoàng. Thường là người mẹ do bởi quá lo âu nên sanh bệnh. Chỉ khi nào con cái lành bệnh thì mẹ mới bình phục. Và như thế, cha mẹ nuôi dưỡng con cái và hy vọng rằng chúng sẽ sớm lớn khôn nên người. Nhưng sau khi con cái trưởng thành, thường là chúng bất hiếu trở lại. Khi nói năng với tôn trưởng và thân quyến, chúng chẳng biết vâng lời, hỗn xược vô lễ, và gườm gườm trợn mắt. Chúng lấn hiếp chú bác, đánh chửi anh em, gây bất hòa trong gia đình, và không có lễ nghĩa. Tuy cũng từng học hành, nhưng chúng không tuân theo lời giáo huấn. Nếu cha mẹ dạy bảo điều chi, thì chúng ít khi nào nghe theo. Còn đối với anh em thì tranh cãi không thôi. Lúc đi lúc về chẳng hỏi han cha mẹ. Lời nói và hành vi cao ngạo. Chỉ làm theo sở thích mà không lường hậu quả. Những lúc cha mẹ khiển trách hay trừng phạt, hoặc chú bác chỉ ra điều không đúng, họ đều thương xót và che chở, vì nghĩ rằng chúng còn thơ dại. Dần dần khi trưởng thành, chúng hung ác xảo trá, không chịu nhận lỗi mà còn sân hận ngược lại. Chúng từ bỏ bạn bè cùng người thân và kết giao bạn xấu. Lâu ngày tập khí đó trở thành bản tánh, rồi chúng cho điều sai là đúng. Hoặc chúng bị người dụ dỗ và bỏ trốn tới tha phương, bỏ bê cha mẹ và biệt ly gia quyến. Thời gian thấm thoát trôi qua, chúng lập nghiệp và kết hôn. Do bận bịu việc làm ăn sinh sống, nên đã lâu rồi mà không trở về thăm quê nhà. Hoặc ở tại tha phương, chúng không may bị người mưu hại. Việc xui xẻo ập đến, chúng bị hình phạt oan uổng và phải lao ngục xiềng xích. Hoặc chúng mắc bệnh hoạn, ách nạn bủa vây, tù khổ đói gầy, không ai săn sóc. Rồi thì bị người khinh rẻ và ruồng bỏ ở ngã tư đường. Thế nên tánh mạng có thể sẽ kết thúc và chẳng ai thèm cứu chữa. Thân thể sưng lên, thối rữa mục nát, mặt trời thiêu cháy, và gió cuốn đi. Xương trắng rải rác nơi đất khách. Chúng sẽ không bao giờ được đoàn tụ an vui với gia đình hay có thể báo đáp ơn sâu nghĩa nặng của cha mẹ, và không bao giờ biết được cha mẹ già đang ở tại quê nhà luôn mãi nhớ mong. Cũng có thể do bởi cha mẹ chúng khóc than nên khiến mắt mù lòa. Cũng có thể do bởi cha mẹ chúng bi ai nên nghẹn ngào thành bệnh. Cũng có thể do bởi cha mẹ chúng quá nhớ con nên tiều tụy rồi chết đi. Dẫu đã biến làm quỷ nhưng hồn của họ vẫn không thể buông xả con cái. Hoặc có con cái chẳng chịu lo học hành, mà lại gia nhập băng đảng và làm những việc bất chính. Chúng thành những côn đồ vô lại, thô cộc, ngoan cố, ưa làm điều vô ích, đánh lộn, trộm cắp, xúc phạm bà con làng xóm, cờ bạc rượu chè. Chẳng những thế mà còn lôi kéo anh em vào con đường xấu để não loạn cha mẹ. Từ sáng sớm đã bỏ đi, đến tận khuya lắc mới về, và chẳng hề hỏi han gì về sức khỏe của song thân. Từ đầu tháng cho đến cuối tháng, từ sáng đến tối, chúng không hề trông nom hay dọn dẹp giường gối. Lại cũng chẳng biết là cha mẹ có ngủ ngon giấc không. Thời gian trôi qua, tuổi cha mẹ càng cao và thân hình gầy yếu, chúng cảm thấy xấu hổ khi gặp người khác, rồi cố nhẫn chịu và đè nén. Hoặc có người cha góa vợ, người mẹ góa chồng. Họ đơn độc ở trong căn nhà trống rỗng và cảm thấy như là khách ở nhờ nhà người khác–rét lạnh đói khát, chẳng ai quan tâm. Ngày đêm họ thường khóc và than thở với mình. Nếu đứa con nào có hiếu thì sẽ phụng dưỡng ngọt bùi và cúng dường song thân. Còn nếu là đứa bất hiếu thì sẽ không hề biết việc này. Trái lại, chúng cảm thấy xấu hổ và sợ người chê cười nếu bắt gặp cha mẹ chúng. Hoặc có đứa phung phí gia tài nuôi vợ nuôi con mà chẳng than khổ nhọc. Không chút hổ thẹn, chúng phục tùng làm theo mọi điều ước muốn của thê thiếp. Nhưng khi tôn trưởng quở trách, chúng hoàn toàn chẳng chút kiêng sợ. Hoặc lại có đứa con gái chỉ quý trọng gia đình phía chồng. Khi chưa xuất giá, chúng hết mực hiếu thuận với cha mẹ mình. Nhưng sau khi đã kết hôn thì bất hiếu một cách nhanh chóng. Dẫu cha mẹ ruột chỉ biểu hiện một chút giận dữ thì liền sanh oán hận. Thế nhưng bị chồng đánh đập chửi mắng thì nguyện cam lòng nhẫn chịu. Tuy là khác dòng khác họ, nhưng tình thâm kết chặt. Còn gia quyến cốt nhục thì phớt lờ cách xa. Hoặc là theo chồng dời đến nơi khác, ly biệt cha mẹ mà lòng không chút quyến luyến. Chúng biệt tăm biệt tích và cắt đứt mọi thông tin liên lạc, khiến lòng cha mẹ quặn đau như bị treo ngược và không một thời khắc nào được bình an. Trong mỗi niệm, họ ước ao muốn thấy mặt con mình, như người khát thèm nước uống; nỗi lo nhớ về con cái không bao giờ thôi nghỉ. Ân đức của cha mẹ là vô lượng vô biên. Nếu ai trót phạm bất hiếu thì báo ứng thật khó diễn bày.” Khi đại chúng nghe Phật nói về trọng ân của cha mẹ, có vị lăn lộn trên đất, có vị đánh ngực, có vị tự đánh mình, có vị thì trong những lỗ chân lông nơi thân đều ứa ra máu, có vị té xỉu trên đất đến một hồi lâu sau thì mới tỉnh dậy. Họ kêu gào rằng: “Thật thống khổ quá đi! Thật đau đớn quá đi! Giờ đây chúng con mới thấy rằng mình thật sự là tội nhân. Từ hồi nào đến giờ đã không biết rằng, mình như kẻ mù đi giữa đêm tối. Nay chúng con mới tỏ ngộ và cõi lòng đều tan nát. Kính mong Thế Tôn hãy xót thương cứu giúp. Xin nói cho chúng con biết để làm sao báo đáp được ân tình sâu dày của cha mẹ?” Lúc bấy giờ Đức Như Lai liền dùng tám loại Phạm âm thâm sâu mà bảo các đại chúng: “Các ông phải biết những điều sau đây. Ta nay sẽ phân biệt và giảng giải cho các ông. Giả sử có người, vai trái vác cha, vai phải vác mẹ, rồi đi vòng quanh núi Tu-di suốt trăm ngàn kiếp cho đến chỉ còn da bọc xương, rồi xuyên thấu xương đến tủy và máu chảy ngập cả đôi mắt cá chân, thì cũng không thể báo đáp hết thâm ân của cha mẹ. Giả sử có người gặp kiếp đói khát, họ vì cha mẹ mà lóc hết thịt trên thân của mình thành những miếng nhỏ như các hạt vi trần, và họ làm như thế suốt trăm ngàn kiếp thì cũng không thể báo đáp hết thâm ân của cha mẹ. Giả sử có người vì cha mẹ, tay cầm dao bén mà khoét mắt của mình để phụng hiến cho Như Lai, và họ làm như thế suốt trăm ngàn kiếp thì cũng không thể báo đáp hết thâm ân của cha mẹ. Giả sử có người vì cha mẹ, họ cũng dùng dao bén mà mổ tim gan, máu chảy lai láng trên đất, chẳng sợ đau đớn, và họ làm như thế suốt trăm ngàn kiếp thì cũng không thể báo đáp hết thâm ân của cha mẹ. Giả sử có người vì cha mẹ, họ chịu bị trăm ngàn cây đao đồng thời đâm vào thân, xuyên thủng từ bên này sang bên kia, và họ phải chịu như thế suốt trăm ngàn kiếp thì cũng không thể báo đáp hết thâm ân của cha mẹ. Giả sử có người vì cha mẹ, họ chịu bị đánh lồi xương, đến nỗi tủy văng ra ngoài, và họ phải chịu như thế suốt trăm ngàn kiếp thì cũng không thể báo đáp hết thâm ân của cha mẹ. Giả sử có người vì cha mẹ, họ chịu nuốt những viên sắt nóng, toàn thân cháy chín, và họ phải chịu như thế suốt trăm ngàn kiếp thì cũng không thể báo đáp hết thâm ân của cha mẹ.” Khi đại chúng nghe Phật nói về ân đức của cha mẹ, ai nấy đều rơi lệ khóc thương và lòng đau như cắt. Họ cùng ngẫm nghĩ nhưng đều chẳng biết phải làm gì. Với lòng hổ thẹn sâu xa, đại chúng đồng thanh bạch với Đức Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Giờ đây chúng con mới thấy rằng mình thật sự là tội nhân. Chúng con phải làm thế nào để báo đáp thâm ân của cha mẹ?” Phật bảo chúng đệ tử: “Nếu muốn báo ơn cha mẹ thì hãy biên chép Kinh này. Hãy vì cha mẹ mà đọc tụng Kinh này. Hãy vì cha mẹ mà sám hối tội lỗi. Hãy vì cha mẹ mà cúng dường Tam Bảo. Hãy vì cha mẹ mà ăn chay trì giới. Hãy vì cha mẹ mà bố thí tu phước. Nếu ai có thể làm những việc như vậy thì mới được gọi là người con hiếu thảo. Còn nếu không làm những việc này thì là người của địa ngục.” Phật bảo ngài A-nan: “Sau khi mạng chung, những kẻ bất hiếu sẽ đọa vào Địa Ngục Vô Gián. Chu vi của đại địa ngục này là 80.000 do-tuần. Bốn phía của ngục thành làm bằng sắt và có lưới bao phủ. Đất của ngục này cũng làm bằng sắt và có lửa bốc cháy phừng phực. Người tội bị lửa dữ hừng hực thiêu đốt, điện chớp sáng cùng sấm sét rượt đánh, và bị nước sắt nước đồng tạt vào. Chó đồng với rắn sắt luôn phun ra khói lửa để thiêu đốt và chiên nướng phần thịt mỡ của tội nhân. Thống khổ thương lắm thay! Thật khó kham khó nhẫn! Lại có móc câu, giáo mác, thương sắt, xiềng sắt, chùy sắt, dùi sắt, cây cối treo kiếm, và bánh xe bằng đao, chúng từ trên không rơi xuống như mây như mưa. Hoặc tội nhân bị chém, bị đâm, và phải chịu trừng phạt thống khổ đến suốt nhiều kiếp mà không chút tạm ngưng. Sau đó lại phải vào các địa ngục còn lại. Trên đầu đội chậu lửa; xe sắt cán dọc cán ngang qua thân thể, làm bụng và ruột xé toẹt ra, xương nghiền nát và thịt cháy chín. Trong một ngày, họ phải chịu hàng ngàn vạn lần chết đi sống lại. Kẻ thọ tội khổ như thế đều là do gây tạo ngỗ nghịch và bất hiếu với cha mẹ ở đời trước.” Khi đại chúng nghe Phật nói về ân đức của cha mẹ, ai nấy đều rơi lệ khóc thương và bạch với Đức Như Lai rằng: “Bạch Thế Tôn! Giờ đây chúng con phải làm thế nào để báo đáp thâm ân của cha mẹ?” Phật bảo chúng đệ tử: “Nếu muốn báo ơn cha mẹ thì hãy biên chép và lưu truyền Kinh điển này. Đó mới thật sự là báo ơn cha mẹ. – Nếu in một quyển thì sẽ thấy một Đức Phật. – Nếu in mười quyển thì sẽ thấy mười Đức Phật. – Nếu in trăm quyển thì sẽ thấy trăm Đức Phật. – Nếu in ngàn quyển thì sẽ thấy ngàn Đức Phật. – Nếu in vạn quyển thì sẽ thấy vạn Đức Phật. Do bởi năng lực từ sự ấn tống Kinh điển nên những người lương thiện này sẽ được chư Phật từ bi thường đến gia hộ. Lại nữa, năng lực ấy có thể lập tức khiến cha mẹ của họ sanh lên cõi trời để thọ hưởng vui sướng và xa rời khổ ách của địa ngục.” Lúc bấy giờ ngài A-nan và hàng đại chúng, gồm có trời, rồng, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, người và phi nhân, cùng Chuyển Luân Thánh Vương và các tiểu vương, khi nghe Phật nói thì tất cả lông trên thân đều dựng đứng. Họ nghẹn ngào khóc thương và không thể tự kềm chế bản thân. Sau đó, mỗi vị phát nguyện rằng: “Kể từ bây giờ cho đến tận vị lai, chúng con thà cho thân này bị nghiền nát như vi trần đến suốt trăm ngàn kiếp, chứ thề không vi phạm thánh giáo của Như Lai. Chúng con thà bị móc câu sắt kéo lưỡi dài ra một do-tuần, rồi đến suốt trăm ngàn kiếp bị cày sắt bừa trên đó và máu chảy thành sông, chứ thề không vi phạm thánh giáo của Như Lai. Chúng con thà bị trăm ngàn bánh xe bằng đao tự do xuyên vào lăn ra, chứ thề không vi phạm thánh giáo của Như Lai. Chúng con thà bị lưới sắt quấn siết vào thân suốt trăm ngàn kiếp, chứ thề không vi phạm thánh giáo của Như Lai. Chúng con thà suốt trăm ngàn kiếp bị chặt, bị giã, bị chém, và nghiền nát thân này thành trăm ngàn vạn đoạn–thịt, da, gân, và xương thảy đều tan rã–chứ thề không vi phạm thánh giáo của Như Lai.” Lúc bấy giờ ngài A-nan từ chỗ ngồi an tường đứng dậy và bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Kinh này tên là gì, và chúng con phụng trì như thế nào?” Phật bảo ngài A-nan: “Kinh này tên là Cha Mẹ Ân Trọng Khó Báo Đáp. Với danh tự này, ông hãy theo đó mà phụng trì.” Lúc bấy giờ hàng trời, người, a-tu-la, và các đại chúng, khi nghe Phật nói, họ đều rất vui mừng, tín thọ phụng hành, đảnh lễ, rồi cáo lui.

 

Giác ngộ lý nhân quả

Vạn vật và mọi hiện tượng trên thế gian này, nếu đem ra khảo sát, chúng ta sẽ
thấy không có một vật tượng nào thoát ra ngoài nhân quả. Từ động vật, thực vật,
khoáng vật cho đến mọi hiện tượng mà các giác quan chúng ta cảm nhận được, đều
phải có nhân mới thành quả. Ví như con người là quả, xuất phát từ bào thai là nhân.
Cây lúa, bông lúa là quả, phát sanh từ hạt lúa giống là nhân. Khối đá là quả, kết hợp từ
những hạt bụi là nhân. Dù là những hiện tượng lạ xuất phát từ con người hay thiên
nhiên, tuy hiện nay người ta chưa phát giác được nguyên nhân của nó, song chỉ là chưa
tìm ra, chớ chẳng phải không nguyên nhân. Thấy quả, chúng ta liền biết có nhân, đó là
tinh thần khoa học, là óc khảo cứu của các nhà bác học. Thấy một thành quả, chúng ta
chưa tìm ra nguyên nhân của nó, là chưa thấu suốt vấn đề. Từ một kết quả, chúng ta
thông suốt nguyên nhân, chúng ta có thể cấu tạo nguyên nhân để được kết quả như ý
muốn. Ví như thấy bông lúa thơm biết từ hạt giống lúa thơm, chúng ta muốn sang năm
có lúa thơm ăn, năm này phải lấy giống lúa thơm gieo mạ. Trên lãnh vực khoa học,
người ta thấy nắp vung nồi nước động, biết từ hơi nước đun sôi bốc lên, do đó chế biến
ra các loại máy nổ. Khi thấy chiếc pháo thăng thiên bay vút lên cao nổ tung ra, biết từ
nhiên liệu cháy có sức đẩy, người ta chế ra các loại phi  phản lực… cho đến những
ngôn từ luận lý cũng phải từ quả đến nhân, hoặc từ nhân ra quả. Nếu không như thế là
lý luận không chặt chẽ. Ví như nói, tôi thích món ăn này (quả), vì nó vừa miệng tôi
(nhân). Tôi không ưa người đó (quả), vì họ ở xấu với tôi (nhân). Vì nghèo (nhân), tôi
không dám ăn xài (quả). Thực tế mà nói, nhân quả bao trùm hết mọi lãnh vực trong
cuộc sống của con người. Mọi hành vi thố lộ ra, đều lệ thuộc nhân quả. Song với người
trí thì biết rõ, kẻ ngu thì không phân rành.
Nói đến nhân quả là tùy thuộc thời gian. Bởi vì từ nhân đến quả, phải trải qua
giai đoạn khác nhau. Như từ một hạt cam đến thành cây cam và có trái cam, phải trải
qua thời gian dài. Hạt cam hoại để thành cây cam, hạt cam thuộc quá khứ, cây cam
hiện tại, trái cam vị lai. Rồi trái cam là quá khứ, hạt cam là hiện tại, cây cam là vị lai.
Cứ thế xoay vần từ nhân đến quả, từ quả lại nhân. Vì thế muốn đoán định nhân quả,
chúng ta phải căn cứ trên ba thời mà xét. Nếu ai chỉ cắt xén một chặng mà đoán định,
là sai lầm lệch lạc. Ví như đồng thời trồng cam, mà một người được quả cam sành,
một người được quả cam đường. Nhìn cây cam lá cam giống nhau, mà trái cam lại
khác. Nếu chỉ căn cứ cây cam, trái cam mà biện lý lẽ, làm sao hiểu nổi. Chúng ta phải
xét lui về quá khứ, khi gieo hạt cam loại nào, mới thấy thấu đáo vấn đề. Cũng thế,
trong cuộc sống khổ vui tốt xấu hiện tại của chúng ta, không nhìn lui về quá khứ, khó
bề hiểu biết tường tận. Cho nên trong kinh Nhân Quả Phật dạy: “Muốn biết nhân đời
trước, cứ xem cuộc sống hiện tại này, cần biết quả đời sau, nên xem hành động hiện
nay.” Hiện tại là kết quả của quá khứ, cũng là nhân của vị lai. Cây cam là quả của hạt
cam, cũng là nhân của quả cam. Muốn mai kia được nhiều quả cam ngon, hiện tại
chúng ta phải vun quén cho cây cam được sum suê. Đấy là khéo ứng dụng nhân quả.
Hiểu thấu đáo lý nhân quả là giác ngộ lý nhân quả.

“Bước Đầu Học Phật”
TP.
— với Hoa Trên Cát và 10 người khác.

[IMG]
LỢI ÍCH VIỆC TÍCH LŨY PHƯỚC ĐỨC :
LỢI ÍCH TỪ VIỆC TÍCH LUỸ PHƯỚC ĐỨC– Bạn thực sự có khát vọng trở thành người giàu có và sống vui vẻ, hạnh phúc, an lạc trong đời sống hiện tại, cũng như tương lai thì ngay từ bây giờ hãy nhanh chân đầu tư vào ngân hàng “Phước đức”. Một địa chỉ đầu tư vô cùng an toàn, lãi suất không chỉ đong đếm bằng các giá trị vật chất thông thường mà còn có cả giá trị làm thăng hoa đời sống tâm linh.– Ngay từ thời Đức Phật còn hiện hữu, Ngài đã khuyến cáo từng cá nhân hãy nỗ lực thực thi làm các việc công đức bằng cả sự nhiệt tâm, tinh cần để đem lại lợi ích lớn. Bạn nên nhớ một việc làm thiện tâm dù rất nhỏ, nhưng hiệu quả tốt đẹp của hành động đó có tác động rất lớn đối với nhiều người.– Xem ra, sự tích lũy các giá trị về công đức về việc làm, lời nói, ý nghĩ của thân khẩu ý sẽ tạo cho bạn một gia tài “Phước đức” để thọ hưởng, nếu hữu dư thì con cháu và những người khác kế thừa. Đây chính là ngân hàng “Phước đức” mà không ai khác hơn, mỗi cá thể đều có khả năng đầu tư, dù bạn là ai, đang sống ở đâu, đang làm gì, thu nhập ra sao, tùy theo khả năng đầu tư các công hạnh hữu ích mà có lãi suất thu nhập “phước đức” cho chính mình. Rõ ràng, “phước đức” không phải tự nhiên mà có, đó là cả quá trình đầu tư của mỗi cá thể trong việc thực thi đời sống tu tập tự thân hướng nội, sống đúng Chánh pháp và làm các việc hữu ích cho đời. Giống như một khu vườn, nếu bạn không đầu tư chăm sóc từ việc gieo hạt, bón phân, và thực hiện các công đoạn khác, thì chẳng bao giờ tận hưởng được hương thơm quả ngọt tốt lành.

– Cho nên, bạn phải nhanh chân đầu tư vào ngân hàng “Phước đức” ở mọi lúc, mọi nơi. Chỉ cần bạn có ý thức tự nguyện tinh tấn làm các việc phước lành thì sẽ có hiệu quả ngay. Bằng cách, thông qua việc nỗ lực thực hành 6 pháp Ba la mật mà Đức Phật từng khuyến cáo, bất cứ ai muốn thực hiện đời sống hướng nội và thực thi hạnh nguyện Bồ tát độ mình và cứu đời thì có thể trở thành nhà đầu tư hữu ích nhất của xã hội. Đó là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ. Sáu phương thức thực thi đầu tư “Phước đức”.

– Bố thí là phương thức hữu hiệu nhất mà bất cứ ai hiện sống trên cõi đời này đều có khả năng thực thi được. Cho dù bạn là người sở hữu tài sản kếch xù, hay là kẻ bần cùng đều có  may thực hành hạnh nguyện đó. Có ba cách bố thí, chia sẻ những khổ đau với người khác: bố thí tài sản vật chất, bố thí pháp, bố thí sự vô úy.

– Rõ ràng, không có ai có thể không thực thi một hình thức bố thí nào đó. Dù bạn đang lâm vào tình trạng khánh kiệt, thất nghiệp cũng có thể bố thí, chia sẻ những nỗi đau túng thiếu, mất mát của người khác hiện còn tệ hơn mình, hay có thể giúp vào các việc công ích bằng sự bố thí, dù nhỏ nhặt, nếu người ấy khao khát được thực hiện. Ngay cả một người hoàn toàn không thể làm được vậy, người ấy cũng có thể có ích cho người khác và xã hội bằng cách phát tâm phục vụ.

– Một người có kiến thức, trí tuệ về lãnh vực chuyên môn nào đó cũng có thể dạy hay dẫn dắt người khác trong trường hợp người ấy không có tiền hay yếu kém về thể chất. Nói chung, người có hoàn cảnh khó khăn cũng có thể thực hiện sự bố thí pháp, như chỉ bảo người ta đi nghe pháp, hành pháp từ một vị giảng sư nào đó.

– Một phương thức đầu tư ngân hàng “Phước đức” được bạn thể hiện nữa, bằng cách thực thi việc sống đúng các nguyên tắc giới luật, luật lệ được cộng đồng, tổ chức, xã hội định chế. Điều tối thiểu bạn cần nhận thức rõ là khi tự thân sống đúng Chánh pháp thì không chỉ cá nhân mình an lạc mà còn tác động đến ngưới khác theo chiều hướng đưa đến sự bình an, hạnh phúc; ngược lại sẽ dẫn đến khổ đau cho chính mình và đưa đến sự bất an, thậm chí gây tổn thương đến người khác. Tính tích cực của việc trì giới là phục vụ mọi người trong khát vọng ai cũng được an lạc. Càng thể hiện nhiều điều thiện lành thì bạn càng nâng cao mình lên và có khả năng phục vụ người khác hiệu quả nhiều hơn.

– Phương thức thể hiện thứ ba cho việc đầu tư phước đức là thể hiện hạnh nguyện nhẫn nhục. Tính tích cực của sự nhẫn nhục trong mọi môi trường, hoàn cảnh sống là phát triển đức hạnh độ lượng. Chúng ta sẽ không còn giận dữ hay trách mắng người khác khi không vừa ý với chính mình. Nếu bạn không có hạnh nguyện nhẫn nhục, nhẫn nại hay độ lượng trong những tình huống như thế, hẳn sẽ gây khổ đau cho mình và người khác.

– Phật từng dạy, một niệm sân khởi lên thì sẽ đốt cháy rừng công đức. Do đó, thực thi phương thức đầu tư này bạn sẽ có nhiều phước đức do tâm trí thanh thản, không còn có các cảm thọ về giận dữ và thù ghét những người gây tổn thương, sỉ nhục hay phản bội mà còn ra sức giúp đỡ họ nữa. Trên hết, bạn không bị dao động tâm lý trước sự vui buồn đối đãi mà chỉ biết yên lặng tỉnh thức để đưa ra quyết định chính xác lợi mình lợi người. Trạng thái tâm thức này là đỉnh điểm của sự tu tập nhẫn nhục, làm hóa hiện lòng từ bi đem đến hạnh phúc cho con người và hòa bình thế giới.

– Tinh tấn là điều kiện cần và đủ để tạo ra phước đức. Tinh tấn đoạn tận các điều bất thiện chưa sanh, đừng cho chúng phát sinh và cả khi chúng đã sanh thì dứt khoát từ bỏ. Đồng thời bạn tinh tấn làm các điều thiện chưa sanh làm cho chúng hiện hành và cả lúc chúng phát sinh rồi thì làm cho thăng hoa nữa. Điều quan trọng, bạn phải nỗ lực làm các việc công đức dù là chuyện nhỏ nhất cũng không thể bỏ qua, kiên tâm phụng sự lý tưởng hạnh nguyện của mình.

– Thiền định là sự đầu tư phước trí song tu, vô cùng quan trọng đối với một người hướng tâm tu tập giải thoát. Chúng ta không chỉ nỗ lực thực hành giáo lý nhà Phật mà còn biết nhìn sự vật bằng một cái tâm tĩnh lặng và suy nghĩ về sự vật đúng đắn. Sự quyết định đúng đắn để giải quyết vấn đề có thể đem lại những giá trị công ích và huân tập sự phước đức càng nhiều hơn.

– Phương thức cuối cùng để đầu tư là trí tuệ. Bạn sẽ giải quyết mọi vấn đề không trọn vẹn nếu không trí tuệ rọi chiếu. Đơn cử, bạn gặp người đang đau đớn quằn quại vì thiếu thuốc, vì lòng thương hại mà bạn bố thí ít tiền thì thật sai lầm. Điều quan trọng là bạn phải hướng họ đi vào trường cai nghiện, thì việc làm ấy mới đem lại giá trị hữu ích đối với người đó. Xem ra, trí tuệ là nhân tố quan yếu đi đến sự thành công của con người.

– Thực thi các phương thức đầu tư như thế, bạn sẽ là người trở nên người giàu có và hạnh phúc an lạc đời này và đời sau nhờ sự tích lũy và lợi nhuận từ ngân hàng “Phước đức”. Trường hợp vị Sa di thay vì chết yểu, chỉ còn được sống trong bảy ngày trở nên trường thọ là nhờ phước đức cứu sống đàn kiến khi trên đường trở về nhà. Có người nhờ bố thí ngọn đèn sáng, nhân đó mà cả nhà đoàn tụ. Một ngọn đèn của người phụ nữ nghèo đã thắp sáng trí tuệ mọi người, nhờ nhân thiện lành đó mà gặp được người giàu có, cho nên phước báu đến không ngừng… và nhiều trường hợp khác còn hơn thế nữa như sử sách kinh điển ghi lại. Còn chờ đợi gì nữa, hỡi bạn, mà không mạnh dạn đầu tư!

– Ở HIỀN KHÔNG GẶP LÀNH VÌ SAO ????
CÓ KHI NÀO BẠN THẮC MẮC
Vì sao ở ác gặp lành ở hiền gặp dữ ?
Thường thường, chúng ta thấy gieo nhân nào thì gặt quả nấy, một cách nhãn tiền. Thí dụ như: sinh sự thì sự sinh, gieo gió thì gặt bão, ở hiền thì gặp lành, làm thiện thì hưởng phước. Gieo hột cam ngọt thì gặt quả cam ngọt, gieo hột chanh chua thì gặt quả chanh chua.
Tuy nhiên, cũng có nhiều người thắc mắc: Tại sao có người ăn hiền ở lành, tu tâm dưỡng tánh, thường xuyên đi chùa, hay đi nhà thờ,… không làm việc gì bất nhơn thất đức, nhưng cứ bị nạn, bệnh hoạn liên miên, họa vô đơn chí, xui xẻo dồn dập? Trái lại, có rất nhiều người, điêu ngoa hung tợn, lừa thầy phản bạn, làm đủ mọi chuyện tồi tệ, ném đá giấu tay, không chừa bất cứ thủ đoạn, phương tiện gian manh nào, nhằm đoạt cho bằng được mục đích vị kỷ của họ, tại sao họ vẫn cứ nhởn nhơ phây phây, bình yên vô sự, ăn nên làm ra, gặp nhiều may mắn, tậu nhà sắm xe?
Luật nhân quả giải thích được các việc đó trong ba thời: quá khứ, hiện tại và vị lai. Có những nguyên nhân được tạo ra trong quá khứ, kết quả hay hậu quả nhận được trong hiện tại. Có những nguyên nhân được tạo ra trong hiện tại, kết quả hay hậu quả nhận được trong vị lai.
Người hiền lành đang gieo nhân lành trong hiện tại, kết quả tốt chưa kịp đến thì hiện nay phải đền trả quả báo xấu do nghiệp nhân xấu đã gây tạo trong quá khứ. Khi quả báo xấu hết rồi, vận xui qua rồi, con người bắt đầu gặp may mắn, gặp vận hên, gặp số đỏ, gặp quới nhơn, ăn nên làm ra, tiền vô như nước, vạn sự hanh thông. Do đó, sách có câu: “Hết cơn bỉ cực tới hồi thới lai”, chính nghĩa như vậy.
Những người hiện đời đang gieo nhân ác, tạo tội tạo nghiệp, hậu quả xấu chưa kịp trổ, nhưng hiện tại đang thụ hưởng phước báo lành do nghiệp nhân tốt đã gieo trong quá khứ. Khi hưởng hết phước báo rồi, con người bắt đầu đền trả nghiệp báo, tai nạn triền miên, tán gia bại sản, lâm bệnh ngặt nghèo, hay chết thê thảm. Các vị quốc vương, hay tổng thống bị đảo chánh và ám sát, các tay tài phiệt bị phá sản phải tự tử, các hoàng gia, công nương, công tử bị bất đắc kỳ tử trên xa lộ, dưới biển sâu, hay trên núi tuyết, cho thấy rằng luật nhân quả không chừa bất cứ ai, không có ngoại lệ, không hề sai chạy!
Trong Kinh A Hàm, Đức Phật có dạy:
Dục tri tiền thế nhân, đương kim thọ giả thị.
Yếu tri lai thế quả, kim sanh tác giả thị.
Nghĩa là:
Muốn biết kiếp trước mình đã gieo nhân gì,
hãy nhìn việc mình thọ nhận hiện tại.
Muốn biết kiếp sau mình sẽ nhận quả nào,
hãy nhìn việc mình đang làm hiện tại.
Nếu hôm nay mình dốt nát nghèo nàn khốn khổ, gặp tai nạn liên miên, thậm chí chết người, thì đó là quả của cái nhân tạo ác nghiệp và không biết làm việc phước thiện trước đây. Nếu hôm nay mình thông minh, đủ ăn đủ mặc, thì đó là quả của cái nhân tu tâm dưỡng tánh, tích phước tích đức trước đây, nhiều đời và đời này. Hôm nay mình được bình an là quả của cái nhân mình không tạo sự bất an cho kẻ khác, dù đó là kẻ thù. Hôm nay mình được hạnh phúc là quả của cái nhân mình không phá hoại hạnh phúc kẻ khác, dù đó là kẻ thù.
Tùy theo “cái nhân” là hạt giống loại nào, sau khi được gieo xuống đất, phải chờ đủ “thời tiết nhân duyên”, mới gặt hái “cái quả” của nó, có khi sớm, cũng có khi muộn. Cũng có khi gặt phải quả chanh chua, nhưng có thể đem bán đi,mua quả cam ngọt. Đó là trường hợp chúng ta đã “lỡ” gieo nhân xấu, nhưng nhờ thiện hữu tri thức nhắc nhở, chúng ta biết phục thiện, quay trở về chánh đạo, chuyển ba nghiệp xấu ác thành ba nghiệp thiện lành, làm nhiều việc phước đức, tu tâm dưỡng tánh, chúng ta có thể gặt “quả tốt”, hay ít ra cũng giảm bớt được “quả xấu”. Tức là chuyện khó hóa dễ, chuyện lớn hóa nhỏ, chuyện nhỏ hóa không. Cũng ví như gieo nhân biết tiết kiệm, con người có thể gặt quả giàu có, hay giảm bớt được nợ xưa đó vậy.
XEM THÊM :
http://diendandongho.vn/forums/cac-triet-ly-cua-duc-phat-cuc-hay.136/